Kiến hoà bạn 6673

Ảnh của tôi
Bến Tre bạn học 6673 - Kiến Hòa bạn học 6673 - kienhoaban6673 là tên gọi chung cho những bạn đã có học trường Trung Học Kiến Hòa từ năm 1966 (lớp Đệ Thất) đến lúc rời trường năm 1973 (lớp 12). Liên hệ: kienhoaban6673@gmail.com - lkluong5@yahoo.com 084-016.460.460.22

Ngày xưa Hoàng Thị Phạm Thiên Thư.



Sài Gòn có một quán café  ”Hoa vàng”, trước kia còn gọi là “Động hoa
vàng”. Quán nằm  ở Ngã Tư Bảy Hiền, trang nhã, tĩnh mịch và rất nên
thơ. Khách thường là những người đứng tuổi. Ai vào, nếu dể ý một tí sẽ
thấy một “lão nông” ngồi lặng lẽ ở góc nhà. Đó chính là thi sĩ Phạm
Thiên Thư, tác giả của những bài thơ nổi tiếng được Phạm Duy phổ thành
những tình khúc bất hủ.
Ngày xưa Hoàng Thị…

Mỗi khi căn phòng vang lên giai điệu mượt mà “Em tan trường về, đường
mưa nho nhỏ, anh theo Ngọ về…”, ông lại nhắm mắt, ngồi bất động như một
vị thiền sư, thả hồn về những dĩ vãng xa xưa…Ngày ấy, trên con đường
trải nắng vàng, cậu học trò lặng lẽ theo sau cô gái tên Ngọ đi học về,
nàng mặc áo dài trắng, tay ôm cặp, mái tóc xoã ngang vai… Chàng si
tình, để lại  những vần thơ xót xa và lung linh mãi đến sau này…
“…Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dấu lau lách buồn…
…Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Trao vội chùm hoa
Ép vào cuối vở…”
 

Có thể nói rằng, vào những năm của thập kỷ 70, bài thơ “Ngày xưa Hoàng
Thị..” là một tuyệt tác. Sau khi Phạm Duy phổ nhạc,  tác phẩm đã trở
thành một hiện tượng tại miền Nam. Thanh Thúy là ca sĩ đầu tiên thể
hiện thành công bài hát này. Lúc bấy giờ, trên các báo phát hành ở Sài
Gòn, người ta thường nghi vấn và đặt dấu hỏi, nhân vật chính trong
“Ngày xưa Hoàng Thị” là ai?  Một vài người tự nhận là mình, số khác lại
bình thơ rồi cho rằng nhân vật chính trong thơ là cô A hoặc cô B nào
đó… Đến khi các phóng viên  gặp Phạm Thiên Thư hỏi chuyện, ông nói
rằng, người đẹp trong ca khúc là cô Hoàng Thị Ngọ, nhưng không hiểu tại
sao nhiều người thời bấy giờ vẫn không tin ?
Quê ông ở Kiến Xương, Thái Bình nhưng lại sinh ra ở Lạc Viên, Hải
Phòng. Năm 1954, khi mới 14 tuổi, ông theo cha mẹ di cư vào miền Nam,
cư ngụ tại khu Tân Định, Sài Gòn. Đó là một căn nhà nhỏ nằm đằng sau
chợ Tân Định cách trường Trung học Văn Lang, nơi ông học, gần một cây
số. Học xong Tú tài, Phạm Thiên Thư theo học trường Phật học Vạn Hạnh,
chọn cửa Phật làm chốn dừng chân và gửi hồn vào cõi Thiền.
Nhà thơ Phạm Thiên Thư, người đã thi hóa Kinh Phật, ông xuất hiện trong
làng thơ như một người tu sĩ, rao giảng Phật Pháp bằng thi ca như Kinh
Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ, Chiêu Hồn Ca, Đoạn Trường Vô Thanh,..Thơ
Phạm Thiên Thư nửa đời, nửa đạo, tâm linh khác thường, làm cho độc giả
lãng đãng và ngẩn ngơ:
“…Em làm trang tôn kinh
Anh làm nhà sư buồn
Đêm đêm buồn tụng đọc
Lòng chợt nhớ vương vương
Đợi nhau từ mấy thuở
Tìm nhau cõi vô thường
Anh hóa thân làm mực
Cho vừa giấy yêu đương…”
(Pháp Thân)
 

Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa
ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Bài thơ
“Ngày xưa Hoàng Thị…” ra đời trong lúc ông mới chập chững bước vào làng
thơ nên nhiều người nghĩ đó là bài thơ đầu tay. Thật ra, bài thơ  đầu
tiên chính là bài “Vết chim bay”, lúc ông mới 24 tuổi, còn nương náu ở
cửa chùa.
Ngày ấy, có một nữ sinh thường vào sân chùa tìm nơi tĩnh lặng để học
bài. Cô đẹp và thánh thiện như ánh sáng của Quan Thế Âm Bồ Tát,  Phạm
Thiên Thư đem lòng thương mến.  Hai người quen nhau độ mươi ngày, một
buổi chiều như bao buổi chiều khác, ông ngồi ở hiên chùa đợi mãi nhưng
chẳng thấy bóng dáng cô. Nàng ra đi chẳng một lời từ biệt để lại sự đơn
côi và nuối tiếc cho chàng trai mới lớn. Mười năm sau, khi trở lại chùa
xưa, tình cờ nhìn thấy nét phấn trắng ghi tên hai đứa vẫn còn trên gác
chuông, lòng bâng khuâng chuyện cũ, Phạm Thiên Thư đã viết nên bài thơ
này:
“Ngày xưa anh đón em.
Nơi gác chuông chùa nọ.
Con chim nào qua đó.
Còn để dấu chân in…
Anh một mình gọi nhỏ.
Chim ơi biết đâu tìm…”
 

Tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư thánh thiện, nhẹ nhàng và kín đáo.
Chút bẽn lẽn, khẽ chạm mà không dám “tay trong tay” vì sợ tình sẽ tan
biến thành khói sương. Đạo Phật ảnh hưởng và tạo nên một không gian ái
tình riêng trong thơ Phạm Thiên Thư. Nó làm cho người đời ngỡ ngàng,
đắm say trong thế giới thi ca huyền diệu của thi sĩ.

Theo ông,  Hoàng Thị Ngọ trong bài  thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” chỉ
là kỷ niệm, một mối tình thoảng nhẹ vu vơ thời trai trẻ. Trong những
năm Tú tài , ông đã để ý một cô bạn học cùng lớp tên là Hoàng Thị Ngọ,
cô gái đó quê gốc Hải Dương và ở gần nhà ông. Sau này, Phạm Thiên Thư
tìm lại cố nhân nhưng người hàng xóm cho biết, bà Ngọ đã bán nhà và dọn
đi nơi khác từ lâu.
Ngày ấy, mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng ở đầu hàng bên nữ, nổi
bật, mái tóc dài xoã trên bờ vai mảnh dẻ. Ông chỉ im lặng ngắm nhìn.
Khi tan trường, cô gái một mình trên đường về nhà, ông lại là kẻ lẽo
đẽo theo sau: “Cô ấy ôm cặp đi trước, tôi đi theo nhưng không dám lên
tiếng. Trong bóng chiều tà, ánh nắng hắt qua hàng cây, cô ấy lặng lẽ
bước, gây cho tôi những cảm xúc bâng khuâng khó tả. Cứ thế, tôi chỉ
biết lặng lẽ đi theo sau cô ấy hàng ngày, giấu kín những cảm xúc của
mình không cho bất cứ ai biết”. Và một lần đắm chìm trong cảm xúc ấy,
ông đã cầm bút viết lên bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị”.
Những năm sau này, mỗi khi đi ngang lại con đường của một thuở yêu
đương, hình ảnh cô gái với mái tóc xoã ngang vai lại hiện về trong ông:
“Em tan trường về.
Đường mưa nho nhỏ.
Chim non giấu mỏ.
Dưới cội hoa vàng..”
Giờ đây, Hoàng Thị Ngọ đã định cư ở Mỹ. Hơn 50 năm, nơi phương trời xa
xôi, cô nữ sinh ngày ấy có còn nhớ…
“…Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ
Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời
Tình ơi! Tình ơi!”
 

Một lần, có người  hỏi ông “Thế khi nào mọi người mới biết tới những
bài thơ của bác?” Phạm Thiên Thư trả lời: “Ấy là khi chúng tôi nhờ nhạc
sỹ Phạm Duy phổ nhạc 10 bài Đạo ca do tôi viết lời, Phạm Duy gặp và
tình cờ đọc được tập thơ của tôi. Tôi cũng không nghĩ Phạm Duy lại
thích bài thơ Ngày xưa Hoàng thị đến thế, ông đề nghị phổ nhạc bài thơ
đó. Dĩ nhiên được một nhạc sỹ nổi tiếng như Phạm Duy để ý đến bài thơ
của mình thì có gì hạnh phúc bằng. Và tôi cũng bất ngờ nghe lại bài thơ
của mình khi đã phổ nhạc. Nhạc sỹ đã tôn bài thơ lên rất nhiều qua
những giai điệu nhạc bay bổng”.
Cha Phạm Thiên Thư tuy làm nghề bốc thuốc Bắc nhưng thỉnh thoảng vẫn
làm thơ. Ông còn nhớ, cha ông đã từng đạt giải Nhì về thơ do một tờ báo
ở Hà Nội tổ chức. Phạm Thiên Thư làm thơ để trải lòng mình chứ không
làm thơ chuyên nghiệp. Vì vậy mãi đến năm 1968, ông mới tự xuất bản tập
thơ đầu tiên, chủ yếu để tự đọc, tặng một số bạn bè thân. Thật ra,
trong cuộc đời sáng tác, Phạm Thiên Thư chẳng muốn ai biết về mình.
Thoáng hương qua
Năm 1964, nhà thơ Phạm Thiên Thư xuống tóc, đi tu ở một ngôi chùa với
Pháp danh là Thích Tuệ Không. Trong 9 năm tu hành (1964 -1973), ông đã
chứng kiến một cuộc tình giữa chú tiểu và một cô bé Phật tử. Chàng 16
tuổi và nàng cũng ngần tuổi đấy. Tình yêu vừa chớm như những bông hoa
nở sớm sau sân chùa. Cứ mỗi lần, chú tiểu đánh chuông, cô bé đứng bên
nhìn và tụng niệm. Trong những lời khấn nhỏ ấy, cô nguyện cầu cho 2 đứa
được bên nhau mãi mãi…
Ðầu xuân em lễ chùa này
Có búp lan vàng khép nép
Vườn trong thoáng làn hương bay
Bãi sông lạc con bướm đẹp
 

Mùa xuân quen nhau, mùa hạ cùng em đi lễ… Rồi mùa thu, mùa đông, hai
người vẫn yêu thương tha thiết, bốn mùa hẹn nhau trong ngôi chùa cổ, có
lò hương với làn trầm nghi ngút:
Vào hạ em lễ chùa này
Trên đồi trái mơ ửng chín
Lò hương có làn trầm bay
Vờn trên bờ tóc bịn rịn
 

Chiến tranh loạn lạc, cuối mùa đông năm ấy, cô bé chết trong trong lúc
chạy giặc. Trong mưa bay và gió lạnh, chú tiểu gạt
nước mắt đưa tiễn người yêu trong chiếc áo quan đơn sơ và mộc mạc như
chính tình yêu của họ:
Sang đông em lễ chùa này
Ngoài sân có mưa bụi bay
Hắt hiu trong cành gió bấc
Vườn chùa rụng cánh lan gầy
Cuối đông đưa em tới đây
Trong lòng áo quan gỗ trắng
Tóc em tợ óng làn mây
Cội hoa tưởng ai trầm lặng
 

Gia đình đưa xác cô an táng sau chùa, nơi những bông hoa vẫn còn nở.
Mỗi buổi chiều, chú tiểu đến bên mộ, thắp hương và ngồi mãi cho đến khi
hoàng hôn buông xuống…
Em vừa nằm xuống đất này
Vườn trong có bông đào nở
Con bướm chập chờn hương bay
Quơ sợi râu vàng bỡ ngỡ
Nắm đất nào vừa lấp mộ
Có con chim hót đầu cành
Tiếng tan trên giòng suối xanh
Nước ơi sao buồn nức nở
 

Mỗi cuộc tình đều có những kết thúc khác nhau. Có người đến đỉnh cao
của hạnh phúc, tràn ngập niềm hân hoan vô bờ bến. Có kẻ rơi xuống vực
sâu của bất hạnh, ôm lấy đơn côi trong im lặng và nước mắt. Cho dù âm
dương cách biệt ngàn trùng, tình yêu ấy vẫn tươi đẹp, sáng lung linh và
huyền diệu. Cõi người vẫn tin rằng, họ vẫn yêu thương nhau, con tim vẫn
thổn thức một lời hò hẹn từ kiếp trước.Và như thế, trong ánh sáng huyền
diệu của Phật Pháp, họ không còn bên nhau nữa nhưng tình yêu vẫn lóng
lánh như những giọt sương còn đọng lại trên những bông hoa nở sớm sau
sân chùa.
Câu chuyện hoàn toàn có thật, Phạm Thiên Thư xúc động và sáng tác bài
thơ nổi tiếng: “Thoáng hương qua”. Sau này, Phạm Duy phổ thành nhạc
phẩm “Em lễ chùa này” và ca khúc đã đi vào lòng người cho mãi đến
giờ. Sau này, Phạm Duy còn phổ nhạc thêm một số bài thơ tình khác của
ông như: Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đoá tình sầu,…Tất cả những
ca khúc này đều nổi tiếng và  được mọi người biết đến.

Sau 1975, Phạm Thiên Thư lui về ở ẩn. Từ năm 1976 đến 1981, để
mưu sinh,  Phạm thi sĩ mở quán hớt tóc ở Lăng Cha Cả. Giai đoạn (1981 –
1983),  ông bán tạp hoá, rượu thuốc, trà đá… ở đường Lý Chính Thắng.
Sau 1983, Phạm Thiên Thư nghiên cứu,  sáng lập và truyền bá môn dưỡng
sinh PHATHATA (Pháp – Thân – Tâm). Sau đó, ông được bác sĩ, nghệ sĩ
Trương Thìn, Viện trưởng Viện Y học dân tộc mời về cộng tác với Viện.
Trong suốt thời gian này, Phạm Thiên Thư thỉnh thoảng cho đăng báo
những bài thơ ngắn. Đôi lần, giới văn nghệ sĩ lại gặp ông đến dự họp ở
Hội Nhà văn TP.HCM. Thời gian sau này, Phạm Thiên Thư thực sự trở lại
và  hoà nhập với văn đàn khi trường ca “Đoạn Trường Vô Thanh” của ông
được tái bản một cách trang trọng.
Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa
ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Mùa xuân
năm Nhâm Thìn (2012), Phạm Thiên Thư đã giao lưu với khán giả  Đà
Nẵng trong chương trình thơ - nhạc mang tên “Động Hoa Vàng” tại Nhà hát
Trưng Vương. Với sự dàn dựng công phu và góp mặt của nhiều ca sĩ trẻ,
cuộc đời, thi ca và âm nhạc của người tu sĩ lãng mạn này lại tái hiện
một lần nữa trong lòng người hâm mộ.

Ngày xưa Hoàng Thị

Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Ôm nghiêng tập vở
Tóc dài tà áo vờn bay

Em đi dịu dàng
Bờ vai em nhỏ
Chim non lề đường
Nằm im giấu mỏ
Anh theo Ngọ về
Gót giày lặng lẽ đường quê

Em tan trường về
Anh theo Ngọ về
Chân anh nặng nề
Lòng anh nức nở
Mai vào lớp học
Anh còn ngẩn ngơ ngẩn ngơ

Em tan trường về
Mưa bay mờ mờ
Anh trao vội vàng
Chùm hoa mới nở
Ép vào cuốn vở
Muôn thuở còn thương còn thương

Em tan trường về
Anh theo Ngọ về
Em tan trường về
Anh theo Ngọ về
Môi em mỉm cười
Man man sầu đời tình ơi

Bao nhiêu là ngày
Theo nhau đường dài
Trưa trưa chiều chiều
Thu đông chẳng nhiều
Xuân qua rồi thì
Chia tay phượng nở sang hè

Rồi ngày qua đi qua đi qua đi

Như phai nhạt mờ
Đường xanh nho nhỏ
Như phai nhạt mờ
Đường xanh nho nhỏ
Hôm nay tình cờ
Đi lại đường xưa đường xưa

Cây xưa còn gầy
Nằm quay ván đỏ
Áo em ngày nọ
Phai nhạt mây màu
Âm vang thuở nào
Bước nhỏ tìm nhau tìm nhau

Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Nay trên đường này
Đời như sóng nổi
Xóa bỏ vết người
Chân người tìm nhau tìm nhau

Ôi con đường về
Ôi con đường về
Bông hoa còn đẹp
Lòng sao thấm mềm
Ngắt vội hoa này
Nhớ người thuở xưa thuở xưa

Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Đôi chân mịt mù
Theo nhau bụi đỏ đường mưa

Xưa theo Ngọ về
Mái tóc Ngọ dài
Hôm nay đường này
Cây cao hàng gầy
Đi quanh tìm hoài
Ai mang bụi đỏ đi rồi
Ai mang bụi đỏ đi rồi
Ai mang bụi đỏ đi rồi




 Phạm Thiên Thư tên khai sinh là Phạm Kim Long, sinh năm 1940, quê nội ở Thái Bình, quê ngoại Bắc Ninh, giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu Kiều - Đoạn trường vô thanh năm 1973.
Tác phẩm đã in: Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (thi hóa kinh Kim Cương); Động Hoa Vàng (Thơ) 1971); Đạo ca (nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều - Đoạn trường vô thanh, 1972; Kinh thơ (thi hóa kinh Pháp Cú); Quyên Từ Độ Bỏ Thôn Đoài (thơ); Kinh Hiếu; Kinh Hiền (thi hóa Kinh Hiền Ngu) gồm 12.000 câu lục bát; Ngày xưa người tình (thơ); Trại Hoa Đỉnh Đồi (thơ) 1975.
Các tác phẩm được phổ nhạc: Ngày xưa Hoàng Thị, Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đóa hoa sầu, Em lễ chùa này, Huyền thoại trên một vùng biển, Loài chim bỏ xứ (nhạc Phạm Duy), Như cánh chim nay (nhạc Cung Tiến), Guốc tía, Đôi mắt thuyền độc mộc (nhạc Võ Tá Hân); Độc Huyền (nhạc Nguyễn Tuấn), Động Hoa vàng (nhạc Trần Quang Long)....
Tác phẩm dự định xuất bản: Tác phẩm Hát ru Việt sử thi dài 3.300 câu của Phạm Thiên Thư sắp xuất bản nhân chào mừng ngàn năm Thăng Long-Hà Nội.

Kim Cương đoạt giải ảnh nghệ thuật 2009


 Triển lãm của Hội Ảnh Nghệ Thuật Việt Ảnh. 


 
Fireworks
Kim Cuong Lac

Motocross
Kim Cuong Lac

Nguyễn Thị Kiến Hòa: CAFÉ ƠI, CHÀO MI…



Nghe qua ai cũng tưởng là tôi đang quit bỏ café là món mà tôi thích và nó theo tôi bao nhiêu năm rồi. Không phải vậy là tôi đang chào…đón nó mỗi sáng đó mà. Có một người bạn, thỉnh thỏang mỗi sáng hay đánh thức tôi bằng email …thức dậy chưa để cùng đi uống café. Nói như là thật, làm tôi nhớ lại những ngày còn nhỏ hay lê la đến quán…

Bến Tre của tôi nhỏ bé lắm. Vì vậy làm gì ai cũng biết, tin tức  còn nhanh hơn  trên đài phát thanh. Thấy dể sợ lắm. Đã vậy còn thêm mắm thêm muối vào…Một con bạn trong nhóm, chiều qua vừa đi chơi với bồ thì hôm sau ở trường đã có nghe tin đó rồi. Con nhỏ không còn dám chối quanh vì đang lo sợ bà chị làm cô giáo ở trường biết là chết.

Ở nhà mỗi sáng thì con bé Nương giúp việc nhà tôi hay cầm ly đến quán café gần nhà, cái quán nằm trên miếng đất của bà Hội đồng Thuận. Quán bán café được lắm, Nương hay mua cho tôi  ly café đen đá, ít đường. Tôi không thích chè café là tiếng mà tôi gọi khi thấy ai bỏ nhiều đường vào ly café. Con bé hay nói với tôi là sao chị uống café gì mà đắng nghét, giống như thuốc bắc…

Hồi đó mỗi tuần  họp Du Ca ở sân trường THCLKH  xong là cả bọn hay kéo nhau ra ngổi ở quán Ngy. Tôi thích nhâm nhi ly café đen đá và nghe nhạc buồn. Lúc đó cái bệnh dị ứng với khói thuốc của tôi chưa có. Nếu không thì làm sao tôi chịu được cái màn khói quyện bay lên cao…

Thời con gái có nhiều mộng mơ. Tôi mơ được yêu, một chàng không cần đẹp trai nhưng phải cao lớn có dáng dấp đàn ông. Hai đứa sẽ cùng đi uống café để tôi nhìn người yêu tôi thả những vòng khói tròn tròn bay lên không .
Chỉ là mơ với mộng, cái ước mơ thầm kín đó tôi dấu kín trong lòng không dám thổ lộ với ai kể cả đám bạn quỷ sứ của tôi. Chúng mà biết thì xấu hổ lắm, chọc cho mình chỉ có nước độn thổ để trốn.

Sang bên đây năm 82 tôi  đi làm về Auto Cad. Hồi đó không có vẽ hiện đại bằng computer như bây giờ. Ngồi trên cái bàn to tướng, cả người phải bò nằm lên cái bãng vẻ thật to. Rồi bôi sứa lung tung, mấy cái bụi đó nó gần mủi tôi nên chui vào. Lúc đầu chỉ là hách xì nhẹ, sau thì …khỏi nói, thành bệnh dị ứng mà mỗi ngày phải uống thuốc. Tên thuốc tôi thuộc làu. Lọai nào uống, lọai nào xịt…Sau đó tôi có đi thử xem tôi bị dị ứng với thứ gì. Bác sỉ cho những thứ đó  trên lưng của mình rồi nhìn mà biết kết quả. Nhìn tờ giấy kết quả mà tôi rụng rời. Ba cái chánh là bụi bậm, lông chó mèo, cây dương xỉ…còn lại thêm một mớ nửa. Xem ra cuộc đời tôi kể như mất hết phân nửa niềm vui. Nhưng bây giờ thì tôi biết ra có nhiều người sang đây chừng 3 năm thì bị như tôi, kể ra củng mừng vì có người cùng san sẻ niềm đau dị ứng. Tôi cũng có đi bác sỉ trị bệnh.

Tôi còn nhớ ông bác sĩ người Đại Hàn ở San Leandro xa lắc mà tôi phải đến vì nghe nói hay. Ông ấy châm mấy cái huyệt trên mặt tôi, nhất là ở mủi. Cũng không hết.  Sau đó tôi đến bác sĩ Helen Mak là người nỗi tiếng về bệnh dị ứnng.  Mỗi tuần rồi mỗi tháng tôi đều đến Bác sỉ chuyên về dị ứng để chích một mũi thuốc vào cánh tay. Tôi phải trả tiền thêm vì bảo hiểm không cover hết.

Một hôm đang ngồi ở phòng ngòai chờ vào chích thì nghe có vài người đang chờ nói chưyên với nhau. Có ngừơi khoe đã đến đấy 5 năm, có người 7 năm. Tôi tò mò hỏi…vậy mình chích bao lâu nhỉ? Điều nầy tôi lại quên hỏi bác sĩ. Người đó trả lời… không biết chắc chích tới ngày …chết quá vì ngưng chích là bệnh sẻ tái phát. Sau đó có nhiều bài báo đăng tin là chích nhiều thì không tốt cho xương nên tôi không đi chích nửa. Tính ra tôi chích mới có 3 năm.

Chổ tôi ở còn có tên là thung lũng hoa vàng. Mỗi năm hoa nở nhiều vào tháng 3 và tháng 4. Năm nào mưa nhiều thì hoa nhiều và tôi tha hồ hách xì. Đi đâu cũng thấy thiên hạ sụt sịt khổ  vì cái mủi. Đi ngang qua mấy quán café thấy thiên hạ ngồi trong và phía ngòai quán, phì phà điếu thuốc mà mình ở xa cũng ngửi thấy để rồi hách xì.

Có một lần vào quán café Ngy nhìn một cặp tình nhân bước vào, ngồi bên nhau, thì thầm to nhỏ. Anh chàng hỏi nhỏ rồi lấy muổng múc đường bỏ vào ly café cho nàng. Một lát sau thì anh chàng lấy thuốc ra, rít một hơi thả khói thuốc bay bên cạnh cô bạn gái xinh xinh đang cúi mặt sau mái tóc dài. Anh Thư nói nhỏ …thấy tình chưa? Tôi mắc cở cúi xuống khuấy ly café của mình như thầm nói…tao cũng thấy vậy.

Sau khi lên Saigon vào Luật, tôi cũng chưa tìm được anh chàng nào để mời mình đi uống café. Tôi rất ngại vào quán một mình.

Nhà tôi ở, đi dọc theo trong hẻm ra ngòai đường Đại lộ Cộng Hòa, bây giờ đổi thành tên Nguyễn văn Cừ. Ngay góc hẻm có một quán café củng đông khách lắm. Ba và tôi thỉnh thỏang đi bộ ra uống café và ăn sáng ở đó. Hai cha con có khi chở nhau qua quán café Năm Dưởng bên Nguyễn thiện Thuật. Café ND nổi tiếng thơm ngon và có nhiều người ngồi uống café vào buổi sáng.

Sau nầy mỗi lần về tôi hay ngồi một mình ở Grival đối diện Quốc hội củ. Ngồi một góc nhìn ra khung cảnh ở ngoài. Ly café đen đá và cái bánh Patê Chaud ở đó thì tuyệt, lại có dịp ngồi nhìn và nghe tiếng ồn ào của xe chạy dù cửa đóng kín. Cái cảm giác năm xưa tuy không tìm được nhưng mùi café củng gợi cho tôi một chút gì của ngày xưa.

Tôi hay lang thang một mình trên phố hay ngồi vào những quán có không khí tỉnh lặng để tìm lại gì tôi củng không biết nhưng mổi lần ngồi  khuấy ly café đen thì tôi chạnh nhớ đến ngày xưa chân sáo của tôi. Thuở mà tôi chưa biết lo lắng đến cái ăn, cái mặc của mình. Sau 75 tôi đi làm ở Cảng Saigon, mổi khi lên ca đêm đến  sáng mới về thì đã mệt và vào ngủ ngon lành. Thức dậy thì đã có ly café của Ba mua để sắn trên bàn. Tôi vẩn nhớ, nhớ hòai những kỷ niệm ấu thơ với những mơ ước thầm kín của đứa con gái mới lớn.

Hôm qua là ngày giổ của Ba tôi. Tôi đã cúng Ba tôi món bánh xèo mà Ba tôi lúc sanh thời thích và một ly café đen đá. Tôi  vừa quậy vừa nói thầm…Ba ơi về ăn bánh xèo và uống café với con gái cưng của Ba  nhen Ba.

Nguyễnthikienhoa

(08-01-2007)

Ntkh: Đi tìm một nửa


Bên tui từ đầu năm đến giờ không mưa, chẳng bù năm ngóai mưa rả rích cả tháng 2. Đamg bị khuyến cáo nên dùng nước ít lại.
Gởi bạn bài thơ tui vừa làm xong, thấy chưa chỉnh lắm. Đọc xong đừng có tưởng tui thất tình thì nguy lắm.
Ngan
Đi tìm một nửa

Đi tìm một nửa ngày xưa ấy
Dỏi  dấu chim di theo bóng mây
Khắc khỏai mơ về miền quê cũ
Kỷ niệm bao năm còn mãi đây

Gió vẫn vô tư đùa với nắng
Bên hồ nhìn đợt sóng lăng tăng
Hồn bỗng chao dao niềm thương nhớ
Hỏi thầm ai đó có biết chăng?

Lệ trào khóe mắt nghe mằn mặn
Đêm ngồi tâm sự với ánh trăng
Mái tóc điểm sương là chứng tích
Thời gian chờ đợi người vô âm

Tìm đâu để được vòng tay ấm
Mờ mịt khói sương ủ hình hài
Thương cho cái kiếp thân tầm gửi
Gục đầu chấp nhận mắt môi cay




Một nửa ngày xưa tìm không thấy
Ta khóc cho mình hay cho ai?


Ntkh
7-20-7

Blog Kiến Hòa bạn 6673